I. Vài công trình lịch sử văn hóa nổi tiếng của Hà Nội. Chỉ còn ba năm nữa, thủ đô Hà Nội và cả nước sẽ kỷ niệm trọng thể Nghìn năm Thăng Long. Trong số các thủ đô của gần 200 nước trên thế giới, không có mấy nước mà thủ đô hiện nay lại có bề dầy lịch sử văn hóa đến nghìn năm như thủ đô Hà Nội của chúng ta. Thủ đô Hà Nội từ lâu đã có một bề dầy lịch sử, văn hóa đặc sắc tạo nên nền văn hiến lâu đời của đất kinh kỳ, kết tinh những giá trị lịch sử văn hóa của dân tộc. Trung tâm nội thành ngày nay có một di tích lịch sử rất nổi tiếng trong nước và quốc tế đó là một di tích lịch sử mang một truyền thuyết đặc sắc đó là hồ Gươm. Chuyện kể rằng khi vua Lê khởi binh chống quân Minh đô hộ , tại căn cứ địa Lam Sơn (Thanh Hóa ) ông có bắt được một thanh gươm.Vũ khí đó theo ông suốt cuộc trường chinh mười năm và cuối cùng đánh đuổi được giặc, giành lại nền độc lập , ông lên ngôi vua đóng đô ở Hà Nội khi đó gọi là Thăng Long. Một hôm vua dong chơi bên hồ Lục Thủy thì có rùa vàng nổi lên, vua tuốt gươm chỉ vào rùa thì rùa liền ngậm cây gươm mà lặn xuống đáy nước. Hẳn là trời cho mượn gươm để dẹp giặc, nay giặc tan thì đem trả gươm lại cho trời – mà rùa vàng là vị Thiên sứ -nên vua đổi gọi là hồ Trả gươm tức là Hoàn Kiếm. Truyền thuyết đó gắn liền với nguyện vọng và ý chí vì hòa bình của dân tộc Việt Nam . Khi có giặc xâm lăng thì cả dân tộc cùng đứng lên cầm vũ khí chiến đấu, khi dẹp xong giặc thì gác vũ khí lại mà lo sản xuất làm ăn, xây dựng đất nước vì một nền hòa bình lâu dài. Hồ Hoàn Kiếm hay còn gọi là hồ Gươm- quả là một minh chứng rõ rệt của tình yêu chuộng hòa bình của toàn dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam từ xa xưa trong suốt quá trình giữ nước và dựng nước đã xuất hiện nhiều vị vua anh minh lãnh đạo nhân dân chiến đấu, xây dựng đất nước và đánh thắng giặc ngoại xâm . Để ghi nhận những công lao to lớn của các vị vua đã hi sinh vì dân tộc, Hà Nội đã có tượng một số vị vua song có một vị từng tạo lập ra kinh đô Thăng Long cách đây 10 thế kỷ (năm 1010) và pho tượng của Người được dựng vào tháng 10 năm 2004. Đó là vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn ) và tượng được dựng ở công viên cùng tên. Công viên này ở bờ đông hồ Gươm, có từ năm 1884. Do thực dân pháp đã đặt ở đó tượng Pôn Be, viên tổng trú sứ đầu tiên qua đời tại Hà Nội năm 1886 nên công viên được gọi là vườn hoa Pôn Be. Sau cuộc đảo chính của Nhật tháng 3/1945, vườn được đổi tên là vườn hoa Chí Linh . Năm 1984, để thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Ấn Độ, vườn hoa được đặt tên mới là Indira Găngđi, tên vị nữ thủ tướng Ấn Độ khi đó vừa bị sát hại. Hai chục năm sau, tượng vua Lý Thái Tổ được đặt tại đây nên lại một lần đổi tên là công viên Lý Thái Tổ ( vườn hoa Lý Thái Tổ ) Ở nhiều nước trên thế giới, có những vị lãnh tụ không những được dân tộc suy tôn mà còn được nhiều tổ chức thế giới tôn vinh. Riêng ở Việt Nam vị lãnh tụ được Ủy ban giáo dục khoa học văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới đó là Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Ngày 2/9/1969 sau khi Người qua đời, Đảng, Nhà nước và nhân dân vô cùng thương tiếc vị lãnh tụ kính yêu và thể theo nguyện vọng của cả dân tộc Đảng ta đã quyết định xây lăng để bảo quản, giữ gìn thi hài của Người để các thế hệ người Việt Nam được dịp thăm viếng, báo hiếu người cha già kính yêu của dân tộc. Công trình tưởng niệm Người chính là “ Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh ” ở Quảng trường Ba Đình Hà Nội Ngày 17-6-1999 Hà Nội được Ủy ban Giáo dục – Khoa học – Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) quyết định trao giải thưởng “ Thành phố vì hòa bình ”. Đây là giải thưởng của Ủy Ban UNESCO xét hai năm một lần, phong tặng cho 5 thành phố tiêu biểu cho 5 khu vực trên thế giơí. Năm 1999 riêng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã chọn trao cho Hà Nội, thủ đô nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giải thưởng danh hiệu “thành phố vì hòa bình ” và được coi là một thành phố đang phát triển có đủ các tiêu chí mà Ủy Ban UNESCO đặt ra. Giải thưởng đó được công bố và trao biểu trưng thành phố vì hòa bình cho đồng chí Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vào ngày 17-7-1999 tại thành phố La Paz thủ đô nước Bôlivia. Ở Hà Nội có một số công trình kiến trúc kiểu châu Âu được xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Trong số đó có Nhà hát lớn hiện nay, còn gọi là Nhà hát thành phố. Sau cách mạng tháng 8/1945, Nhà hát có vinh dự là nơi Quốc hội khóa I đã họp hai kỳ họp đầu tiên trong năm 1946. Cũng phải kể tới quảng trường trước cửa nhà hát, nay được gắn biển là Quảng trường Cách mạng Tháng Tám và đây là nơi khởi động của công cuộc dành chính quyền thành phố, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Ngày 17-8 năm 1945, cán bộ mặt trận Việt Minh được sự ủng hộ của nhân dân đã phá tan cuộc mít tinh của Tổng hội công chức thân Nhật, rồi chuyển thành cuộc tuần hành của quần chúng cách mạng. Sáng ngày 19-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa đã tổ chức cuộc mít tinh lớn tập hợp bà con nội thành và các vùng lận cận tuyên bố khởi nghĩa rồi được quần chúng hậu thuẫn tiến đi chiếm phủ Khâm sai, tòa Thị Chính, trại lính Bảo An …mở ra trang sử độc lập cho Hà Nội. Ngoài một số công trình kiến trúc tiêu biểu như Cung văn hóa Hữu nghị, Trung tâm Hội nghị quốc tế ở 11 Lê Hồng Phong được xây dựng từ rất lâu. Mới đây nhất chúng ta đã xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc gia ở Mỹ Đình, huyện Từ Liêm. Trung tâm này bắt đầu khởi công ngày 15-11-2004, hoàn thành ngày 25-11-2005. trung tâm có diện tích sáu vạn mét vuông, chiều cao ba tầng trên 50 mét.Tòa nhà trung tâm là một kiến trúc đồ sộ và hiện đại, từ cảnh quan bên ngoài tới kết cấu hạ tầng. Mái nhà được thiết kế theo hình uốn lượn tượng trưng lớp lớp con sóng biển Đông trào dâng đưa Việt Nam hội nhập đầy đủ với thế giới. Phòng họp chính có tới 3727 chỗ ngồi. Phòng họp cấp cao với trên 600 chỗ ngồi. Phòng khánh tiết rộng trên 21000 mét vuông, có phòng họp dành riêng cho các nguyên thủ quốc gia và 20 phòng họp nhỏ khác. Riêng khu báo chí là nơi tác nghiệp của trên 15000 phóng viên. Ngoài ra còn có các nhà hàng, khách sạn rộng tới 11000 mét vuông phục vụ đông đảo các đại biểu. Hội nghị cấp cao APEC 14 đã họp tại đây từ 12 đến 19-4-2006.
II- Bảo tồn và phát huy các giá trị của những công trình lịch sử văn hóa Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, là đầu mối giao lưu quốc tế chứa đựng một di sản văn hóa vô cùng phong phú. Chính các giá trị văn hóa đó giữ một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thủ đô. Vì các giá trị đó gắn liền với con người, là động lực nội tại của sự phát triển bền vững và nền tảng tạo nên bản sắc riêng của Hà Nội mà không nơi nào có được. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Hà Nội đang được mở rộng, đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng luôn luôn ý thức rõ trách nhiệm là phải giữ được bản sắc của Hà Nội, Hà Nội phải phát triển trong sự hài hòa giữa hiện đại và truyền thống. Sắp tới đây là lễ kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long Hà Nội được cử hành giữa một Hà Nội đàng hoàng, to đẹp, văn minh, hiện đại mà ở đó, niềm tự hào về truyền thống văn hiến, anh hùng của thủ đô không chỉ được miêu tả trên các trang sử, sách mà còn cần được hiện diện cùng chúng ta và các thế hệ mai sau với những di tích lịch sử văn hóa cần phải được bảo tồn, tôn tạo và phát huy mạnh mẽ, biểu thị sức sống và bản sắc của thủ đô, chung đúc những giá trị văn hóa hàng nghìn năm của cả dân tộc. Muốn làm được điều đó chúng ta cần phải có những việc làm cụ thể và thiết thực hơn nữa như: Tuyên truyền trong nhân dân để mọi người hiểu biết về các mặt giá trị của các công trình lịch sử văn hóa như nguồn gốc, kiến trúc, tín ngưỡng, tâm linh …để họ tự giác bảo vệ các công trình .Lập hồ sơ chi tiết các công trình và in ấn phát hành rộng rãi để tuyên truyền quảng bá sâu rộng trong tất cả các đối tượng để người dân có ý thức vừa bảo tồn vừa phát huy giá trị của các công trình đó, vừa phải giữ gìn vẻ đẹp truyền thống vốn có và phải tôn tạo nâng cấp các di tích lịch sử phù hợp với cảnh quan thiên nhiên cũng như môi trường của Hà Nội. Đặc biệt là phát huy các giá trị di tích đến với đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế để tranh thủ sự hưởng ứng và giúp đỡ của các tổ chức trong việc khai thác sử dụng có hiệu quả các di tích này .